PhuQuy.orgPhú Quý
Nghề biển và kinh tế

Nuôi trồng thủy sản ở Phú Quý: lồng bè trên biển hở, điều kiện và những rủi ro

Nuôi lồng bè ở đảo xa như Phú Quý có lợi thế nước sạch nhưng gặp sóng gió, chi phí thức ăn và con giống. Nuôi gì, ở đâu, cần chuẩn bị gì và những rủi ro thường gặp.

Top-down drone view of square floating fish cages in a turquoise cove beside a rocky island shore, a small boat tied alongside, bright midday sun

Nuôi trồng thủy sản ở Phú Quý chủ yếu là nuôi lồng bè trên biển ở những vùng nước tương đối kín gió quanh đảo, nuôi các loài cá biển và một số hải sản có giá trị. So với khai thác, quy mô nuôi trồng trên đảo còn nhỏ vì vùng nước che chắn ít, sóng gió mạnh theo mùa, con giống và thức ăn phải chở từ đất liền. Lợi thế lớn là nước biển sạch, ít ô nhiễm từ đất liền.

Bài này dành cho người dân và người có vốn đang cân nhắc nuôi biển ở Phú Quý: nên nhìn vào những điều kiện nào, chi phí gồm những khoản gì, rủi ro nào hay gặp, và các bước pháp lý cơ bản. Đây là bài định hướng, không thay cho tư vấn kỹ thuật của cán bộ khuyến ngư hay người nuôi có kinh nghiệm tại chỗ.

Hiện trạng nuôi biển trên đảo thay đổi theo từng năm: có giai đoạn nhiều hộ thử đặt lồng, có giai đoạn co lại sau một mùa bão lớn hay một đợt dịch bệnh. Vì vậy bài không nêu số lồng, sản lượng hay loài nuôi chủ lực tại thời điểm viết; những con số đó nên lấy từ cơ quan quản lý thủy sản và chính quyền đặc khu khi cần lập dự án.

Vì sao nuôi biển ở Phú Quý chưa lớn như khai thác

Đảo Phú Quý nằm giữa biển hở, quanh đảo ít vịnh sâu kín gió như vùng vịnh Vân Phong hay Cam Ranh trên đất liền Khánh Hòa. Những vùng nước tương đối lặng như phía vịnh Triều Dương hay khu vực gần cảng thường đã dành cho tàu thuyền neo đậu, tắm biển và du lịch. Vì vậy diện tích mặt nước phù hợp để đặt lồng bè không nhiều.

Sóng gió theo mùa là thách thức thứ hai. Những tháng gió mùa đông bắc mạnh, lồng bè truyền thống bằng gỗ và phao xốp dễ bị hư hại, cá có thể sổng ra ngoài. Người nuôi phải gia cố, kéo lồng vào chỗ kín hơn hoặc thu hoạch sớm, đều làm tăng chi phí.

Thứ ba là hậu cần: con giống, thức ăn công nghiệp, lưới lồng, phao đều phải chở từ đất liền. Thức ăn tươi như cá tạp thì đảo có sẵn từ nghề khai thác, nhưng dùng cá tạp vừa phụ thuộc mùa khai thác, vừa có nguy cơ làm bẩn nước nếu cho ăn không khéo. Những yếu tố này khiến nuôi biển ở đảo đòi hỏi vốn và kỹ thuật cao hơn.

Cuối cùng là con người: phần lớn lao động khoẻ của đảo đã gắn với tàu khai thác, nơi một chuyến trúng mang về khoản tiền lớn trong thời gian ngắn. Nuôi lồng thì ngược lại, vốn nằm dưới nước nhiều tháng, ngày nào cũng phải chăm, nên ít người trẻ mặn mà nếu chưa thấy mô hình nào thành công rõ ràng ngay trên đảo.

Lợi thế thật sự của vùng nước quanh đảo

Nước biển quanh Phú Quý ít chịu ảnh hưởng của sông ngòi đổ ra, không có khu công nghiệp lớn hay đô thị đông dân xả thải, nên độ trong và độ mặn tương đối ổn định. Với các loài cá biển và hải sản ưa nước sạch, đây là điều kiện tốt. Rạn san hô và hệ sinh thái đáy quanh các hòn còn là nơi sinh sống của nhiều loài, tạo nguồn giống tự nhiên.

Tuy vậy, chính hệ sinh thái này cũng nhạy cảm. Lồng bè đặt dày, cho ăn dư thừa, xác cá chết không thu gom sẽ làm ô nhiễm cục bộ, ảnh hưởng tới san hô và tới cả bãi tắm, vốn là tài sản của ngành du lịch. Phát triển nuôi biển ở Phú Quý vì thế cần cân bằng với bảo tồn và du lịch, chứ không thể đặt lồng ở bất cứ đâu có mặt nước lặng.

Một lợi thế nữa là thị trường tại chỗ: nhà hàng, quán ăn phục vụ du khách cần hải sản sống ổn định, trong khi nghề khai thác lại thất thường theo thời tiết. Cá nuôi lồng có thể bù vào những tuần biển động, khi tàu nhỏ không ra khơi được.

Chi phí và rủi ro của một mô hình lồng bè nhỏ

Bảng dưới liệt kê các khoản chi phí và rủi ro chính của một mô hình lồng bè quy mô hộ gia đình. Không nêu con số vì giá thay đổi theo thời điểm và quy mô; mục đích là để người nuôi không bỏ sót khoản nào khi lập kế hoạch:

KhoảnGồm những gìRủi ro đi kèm
Lồng bèKhung gỗ hoặc ống nhựa, phao, lưới lồng, neo, dâyHư hỏng khi sóng lớn, phải thay lưới định kỳ
Con giốngCá giống từ trại trong đất liền hoặc giống tự nhiênGiống yếu, mang mầm bệnh, hao hụt khi vận chuyển bằng tàu
Thức ănCá tạp tươi hoặc thức ăn công nghiệpGiá biến động; cá tạp khan hiếm khi biển động; ô nhiễm nếu dư thừa
Nhân côngCho ăn, vệ sinh lưới, canh giữPhải có người túc trực, kể cả ban đêm và mùa bão
Thuốc, xử lý bệnhTheo hướng dẫn của cán bộ thú y thủy sảnDịch bệnh lây nhanh trong lồng mật độ cao
Vận chuyển đầu raĐưa cá sống vào đất liền hoặc bán tại đảoHao hụt khi tàu ngưng chạy; phụ thuộc thương lái
Thời tiếtGia cố, di dời lồng khi có bãoMất trắng nếu lồng vỡ trong bão lớn

Người mới thường tính kỹ con giống và thức ăn nhưng quên khoản hư hỏng lồng và hao hụt khi vận chuyển, trong khi ở đảo xa hai khoản này có thể ăn hết phần lời của cả vụ.

Nên bắt đầu nhỏ, nuôi thử một hai lồng qua trọn một mùa gió để biết vị trí đặt lồng chịu được tới đâu, rồi mới mở rộng.

Các bước cơ bản trước khi đặt lồng bè

Nuôi biển không chỉ là chuyện kỹ thuật mà còn là chuyện pháp lý, vì mặt nước biển là tài sản công. Trình tự gợi ý cho người định bắt đầu:

  1. Khảo sát vị trí qua ít nhất một mùa gió, hỏi người nuôi và ngư dân lâu năm về hướng sóng, dòng chảy, độ sâu, nơi tàu thuyền hay qua lại.
  2. Hỏi quy hoạch và quy định tại chính quyền đặc khu và cơ quan quản lý thủy sản của tỉnh: vùng đó có được phép nuôi không, có nằm trong vùng bảo tồn, luồng tàu hay khu du lịch không.
  3. Làm thủ tục giao hoặc cho thuê khu vực biển và đăng ký nuôi trồng theo quy định hiện hành, nếu quy mô thuộc diện phải làm.
  4. Chọn đối tượng nuôi phù hợp điều kiện nước, có nguồn giống tin cậy và có đầu ra; tham khảo cán bộ khuyến ngư.
  5. Thiết kế lồng chịu sóng phù hợp vị trí, tính phương án neo, gia cố và di dời khi có bão.
  6. Lập kế hoạch tài chính cho cả vụ, có dự phòng hư hỏng và hao hụt; tính thời điểm thu hoạch tránh mùa biển động.

Đặt lồng tự phát ở nơi không được phép có thể bị yêu cầu tháo dỡ, mất cả vốn đầu tư. Hỏi trước bao giờ cũng rẻ hơn sửa sau.

Đối tượng nuôi: chọn theo nước, giống và đầu ra

Ở vùng biển Nam Trung Bộ, các loài cá biển như cá mú, cá chim vây vàng, cá bớp là những đối tượng nuôi lồng phổ biến; tôm hùm được nuôi nhiều ở các vịnh của Khánh Hòa và Phú Yên cũ. Với Phú Quý, việc loài nào phù hợp nhất phụ thuộc vào vị trí lồng cụ thể, nguồn giống ổn định và kênh tiêu thụ, nên người nuôi cần hỏi cán bộ kỹ thuật và tham khảo những hộ đã nuôi trên đảo.

Ngoài cá, các mô hình nuôi rong biển hay nhuyễn thể ở nhiều nơi được xem là thân thiện môi trường hơn vì không cần cho ăn. Ở Phú Quý, các mô hình này nếu có thường mới ở mức nhỏ hoặc thử nghiệm; người quan tâm nên tìm thông tin từ các chương trình khuyến ngư và các đề tài nghiên cứu về biển đảo.

Điều quan trọng là đừng chọn loài chỉ vì nghe nói đang được giá. Giá hải sản nuôi biến động theo mùa và theo thị trường tiêu thụ trong đất liền, còn chu kỳ nuôi kéo dài nhiều tháng. Một loài dễ nuôi, đầu ra ổn định thường an toàn hơn một loài giá cao nhưng kén điều kiện.

Gia đình ngư dân tham gia nuôi biển theo những cách nào

Không phải ai cũng cần tự đặt lồng mới tham gia được chuỗi nuôi biển. Ở nhiều làng biển, gia đình ngư dân tham gia ở các khâu nhỏ hơn: cung cấp cá tạp từ tàu khai thác cho người nuôi, nhận làm thuê cho ăn và vệ sinh lưới, đóng và sửa khung lồng, vận chuyển con giống từ tàu khách hoặc tàu hàng về vị trí lồng. Những việc này cần ít vốn nhưng đòi hỏi siêng năng và có mặt thường xuyên.

Một hình thức khác là góp vốn theo nhóm hộ: vài gia đình cùng đầu tư một cụm lồng, chia nhau canh giữ và chia lợi nhuận theo phần góp. Cách này giảm rủi ro cho từng hộ và tận dụng được người nhà rảnh vào những tháng chồng con đi biển dài ngày. Muốn bền, nhóm cần thoả thuận rõ bằng giấy tờ về phần vốn, phần công, cách chia khi lời và cách gánh khi lỗ.

Với phụ nữ và người lớn tuổi trên đảo, nuôi biển quy mô nhỏ cạnh nhà còn là một cách giữ thu nhập ổn định hơn nghề gần bờ, nhất là khi kết hợp được với bán hàng cho quán ăn phục vụ du khách. Tuy vậy, việc canh lồng ban đêm và trong mùa gió vẫn cần người khoẻ, có kinh nghiệm đi ghe.

Nuôi biển và du lịch, bảo tồn: cùng chung một vùng nước

Phú Quý có rạn san hô và hệ sinh thái biển được nhiều nhà khoa học quan tâm, cũng là điểm hút du khách lặn ngắm. Bãi tắm và các hòn nhỏ là tài sản của ngành du lịch. Nuôi lồng bè nếu đặt sai chỗ sẽ va chạm với cả hai: chất thải làm đục nước, rác từ lồng trôi dạt vào bãi, phao xốp vỡ nát thành rác nhựa.

Xu hướng chung ở nhiều địa phương là chuyển từ phao xốp sang phao nhựa bền hơn, quy hoạch vùng nuôi tách khỏi vùng du lịch và vùng bảo tồn, kiểm soát mật độ lồng. Người nuôi trên đảo nếu chủ động làm theo hướng này sẽ ít va chạm với các ngành khác và có lợi thế khi chính quyền siết quy định.

Ở chiều tích cực, một số địa phương kết hợp nuôi biển với du lịch trải nghiệm như tham quan lồng bè, câu cá, ăn hải sản tại bè. Mô hình này nếu làm ở Phú Quý cần đáp ứng quy định về an toàn chở khách, vệ sinh thực phẩm và môi trường; tốt nhất hỏi cơ quan quản lý trước khi đầu tư.

Câu hỏi thường gặp

Ở Phú Quý có nuôi tôm hùm không?

Tôm hùm lồng được nuôi nhiều ở các vịnh kín gió của Khánh Hòa và Phú Yên cũ. Ở Phú Quý, điều kiện biển hở và sóng gió mạnh khiến nuôi tôm hùm quy mô lớn khó hơn; nếu có thì thường ở mức nhỏ. Muốn biết hiện trạng chính xác nên hỏi cơ quan quản lý thủy sản địa phương.

Muốn đặt lồng bè trên biển cần xin phép không?

Mặt nước biển là tài sản công, việc sử dụng khu vực biển để nuôi trồng phải theo quy hoạch và thủ tục giao, cho thuê khu vực biển cùng các quy định về nuôi trồng thủy sản. Quy mô nhỏ hay lớn có yêu cầu khác nhau, nên hỏi chính quyền đặc khu và cơ quan thủy sản trước khi đặt lồng.

Nuôi cá lồng ở đảo xa có lời không?

Có hộ có lời, có hộ thua lỗ. Kết quả phụ thuộc vị trí lồng, giống, kỹ thuật cho ăn, phòng bệnh, thời tiết và đầu ra. Ở đảo xa, chi phí vận chuyển và rủi ro sóng gió cao hơn đất liền, nên cần bắt đầu nhỏ, tính dự phòng và học từ người nuôi có kinh nghiệm.

Dùng cá tạp làm thức ăn có vấn đề gì?

Cá tạp rẻ và sẵn khi tàu về, nhưng nguồn cung phụ thuộc mùa khai thác, dễ ôi nếu bảo quản kém và gây ô nhiễm nước khi cho ăn dư. Nhiều nơi khuyến khích chuyển dần sang thức ăn công nghiệp phù hợp từng loài để chủ động hơn và giữ nước sạch.

Mùa bão người nuôi lồng bè cần làm gì?

Theo dõi bản tin thời tiết, gia cố neo và khung lồng, chuẩn bị phương án kéo lồng về nơi kín gió hơn hoặc thu hoạch sớm. Tuyệt đối không ở lại trên bè khi có lệnh sơ tán. Tài sản có thể làm lại, an toàn tính mạng phải đặt lên trước.

Tìm hỗ trợ kỹ thuật nuôi biển ở đâu?

Có thể hỏi cán bộ khuyến nông khuyến ngư của địa phương, cơ quan chuyên môn về thủy sản của tỉnh, các viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản ở khu vực Nam Trung Bộ và các hộ đã nuôi lâu năm trên đảo. Thông tin trên mạng nên đối chiếu với điều kiện thực tế tại chỗ.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.